cụ Quy do cụ Hương là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, căn cứ theo Điều 669 BLDS 2005 (Điều 644 BLDS 2015). Còn nếu cụ Qúy để lại di chúc có chia di sản cho cụ Hương thì phần di chúc có giá trị pháp lý của cụ Hương sẽ cộng thêm phần di sản cụ Hương được nhận, căn cứ theo Điều 631 BLDS 2005 (Điều 609 BLDS 2015). Thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo di chúc của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Khai nhận di sản thừa kế trong trường hợp sổ đỏ không được đóng dấu Đặc điểm hôn nhân. Hôn nhân là đặc điểm cơ bản thứ hai của quan hệ tranh chấp thừa kế. Vì vậy, trên cơ sở hôn nhân: - Điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định người có quan hệ hôn nhân là vợ, chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất. - Điều 655 Bộ Văn bản về thừa kế nhà đất theo quy định Trường hợp 1: Hưởng thừa kế theo di chúc phải có: Di chúc hợp pháp; Biên bản mở di chúc có người chứng kiến và xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất; Trường hợp 2: Hưởng thừa kế theo pháp luật. Văn bản thỏa thuận phân 12. Chọn đáp án trả lời đúng nhất về tư tưởng Hồ Chí Minh: a. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tế của nước ta. b. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo cash. Thấu hiểu vướng mắc về thủ tục thừa kế, lập di chúc và việc phân chia tài sản, Luật Quang Huy đã bổ sung đường dây nóng tư vấn luật thừa kế. Để được tư vấn miễn phí 24/7 về vấn đề này, Quý khách hàng hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua Tổng đài Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân, nhằm chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ thông tin cho bạn về Hướng dẫn thủ tục mở di chúc theo quy định của pháp luật. 1. Thời điểm mở di chúc Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản, có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài chính do người chết để lại. Ngoài ra, việc xác định thời điểm mở thừa kế còn giúp xác định được những người được hưởng di sản thừa kế và còn là căn cứ để xác định thời thừa kế. Vì vậy việc xác định thời điểm thừa kế là vô cùng quan trọng. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này. Như vậy, thời điểm mở di sản thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Căn cứ vào quy định của pháp luật thì thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có tài sản chết hoặc bị tuyên bố chết theo quy định tại điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc tuyên bố một người chết thì thời điểm mở thừa kế được xác định như sau Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này. 2. Thẩm quyền thực hiện thủ tục mở thừa kế theo di chúc Cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục mở thừa kế Tổ chức công chứng bao gồm Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng trên địa bàn có di sản là bất động sản. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi có tài sản đối với di sản là bất động sản có thể thực hiện thủ tục mở thừa kế. 3. Thủ tục mở thừa kế theo di chúc Thủ tục mở thừa kế là thủ tục pháp lý bắt buộc trong luật thừa kế nhằm thực hiện việc phân chia di sản, nghĩa vụ tài sản của người thừa kế theo nội dung di chúc để lại. Bạn phải chuẩn bị các giấy tờ sau đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp di sản là đất đai photo công chứng; Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của người để lại di sản photo công chứng; Giấy tờ tùy thân của các thừa kế như Căn cước công dân/Chứng minh nhân dân, Sổ hổ khẩu… photo công chứng; Giấy khai sinh của người được hưởng di sản thừa kế photo công chứng Giấy chứng tử của người để lại di sản photo công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn hoặc trích lục đăng ký kết hôn của người để lại di sản. Lưu ý Bạn cần mang theo giấy tờ, văn bản gốc để đối chiếu. Cơ quan công chứng phải kiểm tra kiểm tra hồ sơ đầy đủ hay chưa, nếu chưa thì bạn phải bổ sung. Sau khi giấy tờ đã đủ và phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai. Địa điểm thực hiện phải tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản. Trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Ủy ban nhân dân, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 49 Luật Công chứng. Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề Hướng dẫn mở di chúc theo quy định của pháp luật. Nếu còn bất kỳ vấn đề gì chưa rõ hoặc thắc mắc, vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật dân sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ giải đáp. Trân trọng./. Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 613 nêu trên, người đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết thì vẫn được hưởng di sản thừa kế như những cá nhân khác cùng hàng thừa kế. Bên cạnh đó, Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về phân chia di sản theo pháp luật như sau 1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng. 2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia. Như vậy, trường hợp thai nhi còn sống khi được sinh ra thì sẽ hưởng thừa kế. Nếu thai nhi mất trước khi sinh ra, thì những người thừa kế khác được hưởng phần thừa kế đó. Minh Hoa t/h 2 vợ chồng cụ N có tất cả 5 người con trong đó khi lấy nhau mỗi người có một con gái riêng.một cô đã bỏ 20 năm không tin tức Cụ ông đã mất cách đây hơn 20 năm các cụ có khối tài sản chung gồm 1 ngôi nhà cấp 4 và quyền sử dụng 150m2 đất. Năm 2010 con trai duy nhất của các cụ ốm mất không có vợ con. hiện chỉ còn 3 cô con gái....tuy nhiên do 2 trong 3 cô con gái của cụ N có nhưng hành vi ngược đãi cụ. Nên Cụ N muốn lập di chúc cho tặng toàn bộ khối tài sản gồm nhà và đất của cụ cho một người cháu như vậy việc lập di chúc cho tặng như vậy có hợp pháp không? Thời điểm mở thừa kế các con của cụ có quyền khiếu nại đòi hỏi quyền lợi gì không? Việc lập di chúc với nội dung nêu trên tiến hành ở UBND xã phường có được k? Phải tiến hành như thế nào? 1 Cụ N muốn lập di chúc tặng cho toàn bộ khối tài sản gồm nhà và đất của cụ cho một người cháu như vậy có hợp pháp không? Khi Cụ ông mất không để lại di chúc, như vậy phần di sản mà cụ ông để lại sẽ được chia theo pháp luật. Theo đó, cụ bà được hưởng ½ khối tài sản chung và ½ tài sản còn lại được chia đều làm 6 phần cho 5 người con và cụ bà. Người con bỏ đi 20 năm thì có 2 trường hợp xảy ra - Nếu Tòa án có tuyên bố người con đó đã chết trước hoặc cũng thời điểm với cụ ông thì con của người con cháu đó được hưởng phần di sản mà đáng lẽ người con ấy được hưởng. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với Cụ ông thì chắt được hưởng phần di sản đấy nếu còn sống. Nếu người con ấy không có con thì sẽ không được hưởng di sản của cụ ông. - Nếu Tòa án có tuyên bố người con đó chết sau khi Cụ ông chết thì vào thời điểm mở thừa kế thời điểm cụ ông chết người con ấy vẫn được hưởng phần di sản như những người con khác. Cho đến khi có tuyên bố là đã chết của Tòa án thì phần di sản mà người con đã thừa kế được để lại thừa kế cho mẹ và những người con khác theo quy định của pháp luật. Với trường hợp, ông cụ mất đã hơn 20 năm thì theo Điều 645 BLDS thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là không còn thời hiệu này là 10 năm kể từ thời điểm người có di sản chết. Tuy nhiên mục Chương I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP có quy định về trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp “Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thỏa thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc và khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thỏa thuận của họ. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng thì khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung”. Theo những quy định trên thì khi các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Trong trường hợp này không có di chúc nên nếu các bên không tự thỏa thuận được về phần di sản mà mình được hưởng thì chia tài sản chung theo quy định của pháp luật. Như vậy, trong khối tài sản chung của vợ chồng cụ N là một ngôi nhà cấp 4 và quyền sử dụng 150m2 đất thì bà cụ N được ½ tài sản chung ấy và 1/6 khối tài sản còn lại. Nếu sau đó người con trai của bà cụ N mất và người con mất tích bị tuyên bố đã chết đều không có người thừa kế thế vị thì phần di sản của 2 người này sẽ được chia đều cho bà cụ N và 3 người con còn lại. Điều 631 BLDS có quy định “cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.” Điều 646 BLDS cũng có quy định “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” Điều 648 BLDS có quy định một trong những quyền của người lập di chúc là “chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế” Theo đó cụ N muốn lập di chúc tặng cho tài sản của cụ cho một người cháu thì việc lập di chúc tặng cho của cụ là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên di sản tặng cho của cụ chỉ bao gồm những tài sản mà cụ được thừa kế từ chồng và các con trai, con gái đã mất chứ không phải toàn bộ tài sản hiện cụ đang chiếm hữu một ngôi nhà cấp 4 và quyền sử dụng 150m2 đất. 2 Thời điểm mở thừa kế các con của cụ có quyền khiếu nại đòi hỏi quyền lợi gì không? Điều 667 BLDS quy định “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế”. Do đó nếu cụ N đã lập di chúc tặng cho toàn bộ tài sản cho người cháu của mình thì từ thời điểm cụ N chết, di chúc có hiệu lực và các con của cụ N không có quyền đòi hỏi quyền lợi gì từ khối di sản thuộc về quyền sở hữu của cụ bà N. Các con của bà cụ N có thể khởi kiện để Tòa án chia phần di sản mà họ được hưởng sau khi ông cụ, con trai duy nhất của 2 ông bà mất và người cô đã mất tích hơn 20 năm với điều kiện “các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế” và được chia theo pháp luật. Tuy nhiên pháp luật cũng có quy định hai trường hợp người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại điều 669 BLDS như sau “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền được hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 của BLDS Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.” Do bạn không nói rõ về 3 người con còn lại của cụ N nên chúng tôi không thể xác định chính xác những người con đó có thể đòi hỏi quyền lợi hay không? 3 Việc lập di chúc như trên có thể tiến hành ở UBND xã, phường được hay không? Việc lập di chúc có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng điều 649 BLDS 2005. Di chúc bằng miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản điều 651 BLDS. Nhưng di chúc bằng miệng chỉ được coi là hợp pháp khi có ít nhất 2 người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực Điều 652 BLDS. Di chúc bằng văn bản có thể có hoặc không có người làm chứng, hoặc có công chứng tại cơ quan công chứng hoặc có chứng thực tại UBND xã, phường, thị trấn. Như vậy việc lập di chúc như trên có thể tiến hành ở UBND xã, phường, thị trấn đối với di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trên đây là những gợi ý mang tính chất tham khảo của chúng tôi để Quý khách có phương hướng giải quyết vấn đề đang gặp phải. Trân trọng cảm ơn!

mở di chúc thừa kế